BÁC HỒ KÍNH YÊU

anhbh.LỜI BÁC HỒ DẠY : Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế, không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân. .

NỘI DUNG CỦA TRANG

TÌM THEO THƯ MỤC

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Gốc > PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC >

    Một số quy tắc viết chính tả trong tiếng Việt

    Thực tế, những lỗi chính tả thường gặp trong tiếng Việt khá đa dạng. GCH xin giới thiệu đến các bạn một số quy tắc viết chính tả trong tiếng Việt do cô giáo  Phan Thị Mỹ Hạnh đúc rút từ kinh nghiệm 10 năm giảng dạy của mình cũng như tìm tòi nghiên cứu nhiều sách báo và các tài liệu tiếng Việt khác.

      1. Qui tắc viết hoa cơ bản

    – Đầu câu, danh từ riêng.
    Ví dụ: Bác Hồ, Tổ quốc, Mặt Trời,…
    – Viết hoa khi dẫn lời nói trực tiếp.
    Ví dụ: Thanh gọi mẹ ríu rít: – Mẹ ơi !
    – Sau dấu hai chấm mà kiểu câu liệt kê thì không viết hoa.
    Ví dụ: Xoài có nhiều loại: xoài tượng, xoài cát, xoài thanh ca,…
    – Viết hoa tên người, tên địa danh nước ngoài: phiên âm, dịch ra tiếng Việt.
    + Trường hợp phiên âm qua âm Hán Việt: Viết theo quy tắc viết tên người, tên địa lí Việt Nam.
    Ví dụ: Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành, Khổng Tử, Đức, Nhật Bản, Bồ Đào Nha, Triều Tiên …
    + Trường hợp phiên âm không qua âm Hán Việt (phiên âm trực tiếp, viết sát theo cách đọc): Đối với mỗi bộ phận tạo thành tên riêng, viết hoa chữ cái đầu và có gạch nối giữa các âm tiết.
    Ví dụ: Phơ-ri-đơ-rích Ăng-ghen, Vơ-la-đi-mia I-lích Lê-nin, Mát-xcơ-va, I-ta-li-a,  An-giê-ri, …

    2. Qui tắc chính tả do một âm có nhiều cách viết (Trường hợp i/y)

    – Có 3 trường hợp viết y:
    + Bắt buộc viết y đứng sau âm đệm như: huy, tuy, thúy,…
    + Đứng sau nguyên âm ngắn a như ây
    + Đứng trước ê khi chữ đó không có âm đầu như: yêu, yết, yếm
    – Trường hợp bắt buộc viết i:
    + Sau các nguyên âm dài, trong đó các vần kết thúc bằng phụ âm mà không có âm đệm.
    Ví dụ : kim tim, tin, …
    + Trước a khi chữ đó không có âm đệm như: lía, kia, chia,…
    – Trường hợp viết i/y đều đúng trong trường hợp có âm tiết mở (Khuyến khích học sinh viết i: Châu Mĩ/Châu Mỹ, Địa lí/Địa lý, Bác sĩ/Bác sỹ,…)
    – Phải viết i hoặc y bắt buộc do phân biệt nghĩa.
    Ví dụ: bàn tay – lỗ tai; ngày mai – may mắn; khoái chí – cái khoáy âm dương.

    3. Qui tắc sử dụng âm đầu l/n; ch/tr; s/x; r/d/gi; c/k/q:

    a) Trường hợp l/n

    – Chữ  không đứng đầu các tiếng có vần có âm đệm (oa, oe, uâ, uy) trừ hai âm tiết Hán Việt: noãn, noa. Do đó nếu gặp các tiếng dạng này thì ta chọn l để viết, không chọn n.
    Ví dụ: chói loà, loá mắt, loảng xoảng, loà xoà, loạng choạng, loan báo, loăng quăng, loằng ngoằng, loắt choắt, quần loe, lập loè, loá sáng, luân lí, kỉ luật, luẩn quẩn, lưu luyến, luyên thuyên, tuý luý, …
    – Trong cấu tạo từ láy:
    + Láy âm: Cả l và đều có từ láy âm. Do đó nếu gặp từ láy âm thì ta có thể chọn cả hai tiếng cùng có âm hoặc n. 
    Ví dụ: no nê, nợ nần, nao núng, nôn nao, nảy nở, nung nấu,… lo lắng, lầm lì, lanh lảnh, lung linh, long lanh, len lỏi, lâm li,…
    + Láy vần: trong các từ láy vần có tiếng có n hoặc l thì tiếng thứ nhất bao giờ cũng có âm đầu l, tiếng thứ hai có âm đầu n khi tiếng thứ nhất có âm đầu gi hoặc khuyết âm đầu và tiếng thứ hai có âm đầu l khi tiếng thứ nhất có âm đầu khác gi. Do đó nếu gặp từ láy vần thì tiếng thứ nhất ta phải chọn âm đầu l còn nếu tiếng thứ nhầt có âm đầu gi hoặc khuyết âm đầu thì tiếng thứ hai ta chọn n, tiếng thứ nhất có âm đầu khác gi thì tiếng thứ hai ta chọn l. (Trừ hai trường hợp đặc biệt: khúm núm, khệ nệ).
    Ví dụ: la cà, lờ đờ, lò dò, lù đù, lơ mơ, lan man, lõm bõm, lạch bạch, … gian nan, gieo neo, giãy nảy, áy náy, ảo não, ăn năn, … cheo leo, chói lọi, lông bông, khét nẹt, khoác lác, …
    – Một số từ có thể thay thế âm đầu nh bằng âm đầu l.
    Ví dụ: nhời – lời, nhẽ – lẽ, nhỡ – lỡ, nhát – lát, nhăm nhe – lăm le, nhấp nhánh – lấp lánh, nhố nhăng – lố lăng, …
    – Một số từ có thể thay âm đầu đ, c bằng âm đầu n.
    Ví dụ: đấy – nấy, cạo – nạo, kích – ních, cạy – nạy, …
    – Những từ dùng chỉ vị trí hoặc chỉ sự ẩn nấp thường viết bằng n. 
    Ví dụ: này, nọ, ni, nớ, nào, nấp, náu, né, nép, …

    b) Trường hợp ch/tr

    – Chữ tr không đứng đầu các tiếng có vần âm đệm (oa, oă, oe, uê). Do đó nếu gặp các dạng này ta chọn ch để viết, không chọn tr.
    Ví dụ: sáng choang, áo choàng, choáng váng, chập choạng, … loắt choắt, chích choè, chí chéo, chuệch choạc, chuếnh choáng, …
    – Những từ Hán Việt có thanh nặng hoặc thanh huyền thường có âm đầu tr. Do đó nếu gặp các dạng này ta chọn tr để viết, không chọn ch.
    Ví dụ: trọng, trường, trạng, trình tự, trừ phi, giá trị, trào lưu, trù bị, …
    – Những từ chỉ đồ vật trong nhà, chỉ tên các loại quả, chỉ tên các món ăn, chỉ tên các hoạt động, chỉ quan hệ giữa những người trong gia đình và những từ mang
    ý nghĩa phủ định thường có âm đầu ch.
    Ví dụ: chăn, chiếu, chai, chén, chổi, chum, chạn, chõng, chảo, … chuối, chanh, chôm chôm, cháo, chè, chả, chạy, chặt, chắn, chẻ, … cha, chú, chị, chồng, cháu, chắt, chẳng, chưa, chớ, chả, …
    – Một số từ có thể thay âm đầu tr bằng âm đầu gi.
    Ví dụ: trồng – giồng, trầu – giầu, trời – giời, trăng – giăng, …
    – Trong cầu tạo từ láy:
    + Láy âm: Cả tr và ch đều có từ láy âm. Do đó nếu gặp láy âm đầu thì ta có thể chọn cả hai tiếng cùng có âm đầu ch hoặc tr.
    Ví dụ: chông chênh, chen chúc, chăm chỉ, chân chất, chập chững, … tròn trĩnh, trùng trục, trăn trở, tròng trành, trơ tráo, trập trùng, …
    + Láy vần: Trong các từ láy vần chỉ có tiếng có âm đầu ch (trừ một số trường hợp đặc biệt: trét lẹt, trót lọt, trụi lủi)
    Ví dụ: chơi vơi, lừng chừng, chàng màng, chênh vênh, chán ngán, chót vót…

    c) Trường hợp s/x

    – Chữ s không đứng đầu các tiềng có âm đệm (oa, oă, oe, uê, uâ) ngoại trừ các trường hợp: soát, soạt, soạng, soạn, suất.  Do đó nếu gặp các tiềng dạng này thì ta chọn x để viết không chọn s.
    Ví dụ: xuề xoà, xoay xở, xoành xoạch, xuềnh xoàng, xoăn, xoe, xuân, …
    – Trong cấu tạo từ láy:
    + Láy âm:  Cả s và x đều có từ láy âm.  Do đó nếu gặp từ láy âm đầu thì có thể chọn cả hai tiếng cùng có âm đầu s hoặc x.
    Ví dụ: sắc sảo, suy suyển, sờ soạng, sục sạo, sung sướng, sỗ sành, … xao xuyến, xôn xao, xàm xỡ, xì xào, xí xoá, xấp xỉ, xoèn xoẹt, …
    + Láy vần: Tiếng có x thường láy với tiềng có l, trừ một số trường hợp: lụp sụp, đồ sộ, sáng láng. Do đó nếu gặp láy vần thì ta chọn tiếng chứa âm đầu x.
    Ví dụ: liểng xiểng, loăn xoăn, loà xoà, lộn xộn, lao xao, xoi mói, xích mích, xa lạ, …
    – Một số từ ghép có một tiếng có âm đầu s và có một số tiếng có âm đầu x:
    Ví dụ: xứ sở, sản xuất, xuất sắc, xác suất, xổ số, soi xét, …

    d) Trường hợp r/d/gi

    – Chữ r và gi không đứng đầu các tiềng có vần có âm đệm (oa, oe, uê, uy). Do đó gặp các tiếng dạng này thì ta chọn d để viết, không chọn r hoặc gi.

    Ví dụ: kinh doanh, doạ nạt, doãng ra, hậu duệ, duy nhất, duyệt binh, …
    – Trong các từ Hán Việt:
    + Các tiếng có thanh ngã hoặc thanh nặng thường viết với âm đầu d.
    Ví dụ: diễn viên, hấp dẫn, bình dị, mậu dịch, kì diệu, …
    + Các tiếng có thanh sắc hoặc thanh hỏi thường viết gi.
    Ví dụ: giải thích, giảng giải, giá cả, giám sát, giới thiệu, tam giác, …
    + Các tiếng có thanh huyền hoặc thanh ngang thường viết với âm đầu gi khi vần có âm đầu avà viết với âm đầu d khi vần có âm đầu khác a.

    Ví dụ: gian xảo, giao chiến, giai nhân, tăng gia, gia nhân, du dương, do thám, dương liễu, dư dật, ung dung, …
    – Trong cấu tạo từ láy:
    + Láy âm: Cả gi, r, d đều có từ láy âm. Nếu gặp từ láy âm thì có thể chọn cả hai tiếng cùng có âm đầu gi, r hoặc d.
    Ví dụ: giành giật, giãy giụa, giục giã, già giặn, giấm giúi, … dai dẳng, dào dạt, dằng dặc, dập dìu, dãi dầu, … ríu rít, ra rả, rì rào, réo rắt, run rẩy, rung ring, rưng rức, rùng rợn, rón rén, rừng rực, rạng rỡ, rực rỡ, …
    + Láy vần: Tiếng có d thường láy với tiếng có l, tiếng có r thường láy với tiếng có b hoặcc, tiếng có gi thường láy với tiếng có n.
    Ví dụ: lim dim, lò dò, lai dai, … bứt rứt, cập rập, bịn rịn, co ro, cò rò, bủn rủn, … gian nan, gieo neo, giãy nảy.

    – Một số từ láy có các biến thể khác nhau: rào rạt – dào dạt, rập rờn – giập giờn, dân dấn – rân rấn, dun dủi – giun giủi, dấm dứt – rấm rứt, dở dói – giở giói, gióng giả – dóng dả, réo rắt – giéo giắt. rậm rật – giậm giật, …
    – Trong cấu tạo từ ghép giữa r, d, và gi. Chỉ có từ ghép có tiếng âm đầu gi và tiếng có âm đầu d, không có từ ghép có tiếng âm đầu r và âm đầu d hay âm đầu r và âm đầu gi.

    Ví dụ: già dặn, giáo dục, giao dịch, giả dối, giản dị, giao du, giảng dạy, giận dữ, gian dối, giận dỗi, giao duyên, …

    e) Trường hợp c/k/q

    – Giúp cho học sinh nắm được các qui luật:
    q luôn bao giờ cũng đi với âm đệm u để thành qu
    c luôn đứng trước các nguyên âm: a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư.
    k luôn đứng trước các nguyên âm: i, e, ê.


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Thị Thanh Thuỷ @ 19:33 26/04/2015
    Số lượt xem: 938
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến