BÁC HỒ KÍNH YÊU

anhbh.LỜI BÁC HỒ DẠY : Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế, không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân. .

NỘI DUNG CỦA TRANG

TÌM THEO THƯ MỤC

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Gốc > MÔ HÌNH VNEN >

    VNEN LÀ VIẾT TẮT CỦA NHỮNG TỪ GÌ ?

    Mô hình trường học mới Việt Nam viết tắt là “VNEN”. V,N là chữ cái viết tắt của VIỆT NAM, E là chữ viết tắt của ESCUELA , N là chữ viết tắt của NUVEA theo Tây Ban Nha. Vậy VNEN nghĩa là mô hình trường học mới Việt Nam . Đây là mô hình trường học hiện đại  của thế kỉ 21, là nơi học sinh cùng nhau học tập để lĩnh hội kiến thức, chia sẻ vốn hiểu biết của mình đã  được trải nghiệm trong cuộc sống hàng ngày, học sinh tự tin, được thể hiện mình, học sinh được học tập kiến thức và rèn luỵên kĩ năng sống. Rất phù hợp, cập nhật với sự phát triển của đất nước ta trong công cuộc hiện đại hóa đất nước.Với những ưu điểm trên  mô hình mang tính chất đột phá  đổi mới sư phạm trong nhà trường.Sự đổi mới đó gồm các nội dung sau:

    1.     Đổi mới phương pháp dạy:

    Đây chính là phần đổi mới của người thầy. Trước đây chúng tôi đứng trên bục giảng giảng bài  bằng chính bài soạn của mình , sử dụng các phương pháp dạy học  truyền thống để giảng bài cho học sinh. Nhưng lớp học VNEN của chúng tôi hiện nay thầy không giảng bài theo cách truyền thống đó nữa mà trở thành người tổ chức , hướng dẫn  học sinh học theo Hướng dẫn học với các đồ dùng, dụng cụ được chuẩn bị cho giờ học, hỗ trợ học sinh khi cần thiết. chúng tôi nói ít hơn, viết bảng ít hơn. Bởi vậy giờ học vui vẻ hơn, tự nhiên và nhẹ nhàng hơn.

    2.     Đổi mới phương pháp học:

    Đây chính là phần đổi mới của trò. Trước đây học sinh hầu hết thụ động ngồi  nghe giảng hoặc làm việc dưới sự chỉ đạo của thầy,Nhưng với lớp học theo mô hình VNEN của chúng tôi hiện nay học sinh được tự học, tự chiếm lĩnh kiến thức qua tài liệu hướng dẫn học, và đồ dùng học tập, được tương tác với bạn, với thầy cô và với cộng đồng. Bởi vậy các em được làm việc nhiều, có cơ hội thể hiện , trải nghiệm mình,  kĩ năng giao tịếp tốt, các em mạnh dạn, tự tin và hứng thú học tập.

    3.     Đổi mới sách học:

      Theo chương trình hiện hành, học sinh của chúng ta dùng sách giáo khoa, vở bài tập. Thầy cô dùng sách hướng dẫn cho giáo viên. Sách viết quan tâm đến kiến thức và phương pháp dạy, tác động của giáo viên đến học sinh.

      Theo VNEN sách giáo khoa được gọi là tài liệu hướng dẫn học, dùng cho cả học sinh, thầy cô và phụ huynh (cộng đồng) Đây có thể gọi là tài liệu 3 trong 1. sách viết được kế thừa phương pháp truyền thống ngoài ra còn được mở rộng hơn đó là sự tác động của môi trường lớp học qua các góc học tập và các công cụ trong lớp , mối quan hệ tương tác giữa các học sinh, giữa học sinh với giáo viên, và giữa học sinh với gia đình, cộng đồng.

    - Về nội dung: Tài liệu hướng dẫn học các môn vẫn giữ nguyên chuẩn kiến thức kĩ năng của chương trình Tịểu học chung cả nước.

    - Về hình thức: Mỗi bài học được chia thành 3 phần cơ bản dưới các hoạt động học:

                                A- Hoạt động cơ bản

                                B- Hoạt động thực hành

                                C- Hoạt động ứng dụng

    Mỗi hoạt động học có lôgo chỉ dẫn cho học sinh tự học, học sinh dễ dàng hoạt động và thao tác. 

        4. Đổi mới về Tổ chức lớp học:

    -Cơ cấu tổ chức lớp: .

     Mỗi lớp học có một chủ tịch Hội đồng tự quản, hai phó chủ tịch Hội đồng tự quản( thay cách gọi lớp trưởng, lớp phó) và các tịểu ban do học sinh trong lớp xây dựng. Đầu năm học mới , giáo viên  cùng học sinh và phụ huynh tổ chức cho học sinh bầu hội đồng tự quản. Các em tự ứng cử, tranh cử, bầu cử hội đồng tự quản của lớp mình. Em nào cũng được hoạt động theo khả năng của mình. Các em nâng cao ý thức trách nhiệm hơn.

     

    Học sinh ngồi học theo nhóm

     

        -Trang trí lớp học VNEN:

          Lớp học VNEN được kê bàn ghế cho học sinh ngồi học theo nhóm. Có thể bố trí cho các em ngồi theo nhóm 4 em hoặc nhóm 6 em .Trong lớp học được trang trí với không gian gần gũi thân thiện, về cơ bản có các công cụ như sau:

     +Các góc học tập: Đây là nơi chứa các tài liệu, đồ dùng học tập để học sinh được sử dụng một cách chủ động trong các hoạt động học tập của một tịết học, bài học theo tài liệu hướng dẫn học. Gồm các góc cơ bản là:

     -Góc Tịếng Việt

    - Góc toán

    - Góc Tự nhiên & Xã hội .

    +Các công cụ phục vụ hội đồng tự quản hoạt động và học tập gồm:

    - Góc thư viện

    - Góc cộng đồng.

    - Hộp thư bè bạn

    - Bản đồ cộng đồng

    - Hộp thư Điều em muốn nói

    - Sổ theo dõi chuyên cần

    - Góc sinh nhật

    - Nội quy lớp học

    - Những lời yêu thương …

     

    Minh họa một số góc học tập trong lớp học VNEN

     

         5. Đổi mới cách đánh giá học sinh:

    Cách đánh giá học sinh được đồng bộ đổi mới theo lớp học VNEN

     bằng những nhận xét thường xuyên của giáo viên trong quá trình học của học sinh một cách kịp thời để học sinh biết điều chỉnh hành vi, thái độ kĩ năng và kết quả học tập .

        6. Đổi mới về tham gia của phụ huynh và cộng đồng:

    Mô hình VNEN được xây dựng mối liên hệ chặt chẽ tương tác  phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng. Trong quá trình học tập của các em luôn luôn có sự đồng hành của gia đình. Mỗi bài học đều có phần kiến thức ứng dụng để học sinh học cùng cha mẹ ,người thân vận dụng thực tế trong cuộc sống ở gia đình và địa phương. Cha mẹ các em có thể cùng thầy cô làm đồ dùng học tập cho các em,… Tạo sự gắn bó giữa các thành viên trong gia đình, kết hợp giáo dục hình thành nhân cách cho trẻ.

    Với những điểm mới trên tôi thấy lớp học VNEN có điểm thuận lợi là: học sinh được tự học, các em có cơ hội thể hiện mình trong các hoạt động nên rất mạnh dạn tự tin trong giao tịếp và học tập, đặc biệt là tính hợp tác được nâng cao rõ rệt. Giáo viên nói ít hơn, giờ học vui vẻ nhẹ nhàng hơn, tất cả các em đều được quan tâm đặc biệt là các em học chậm và yếu hơn.

    Bên cạnh những điều hứng thú đó tôi cũng gặp không ít khó khăn mà bản thân tôi phải nỗ lực học hỏi và cố gắng nhiều đó là:

    -Phương pháp truyền thống đã nhuần nhuyễn và thấm sâu trong trong tôi mỗi ngày nên khi chuyển đổi sang mô hình mới học sinh tự học tôi thấy không tự tin và không tin các học sinh của tôi có thể làm tịểu giáo viên để hướng dẫn các bạn thay cô giáo. Vậy nên khi lên lớp, sau thời gian dài với kết quả thực tế tôi mới tự tin về phương pháp của mô hình và tin các trò của tôi đã làm được những điều tôi mong muốn.

    -Học sinh của tôi ở nông thôn, các em nhút nhát việc đào tạo học sinh làm nhóm trưởng gặp nhiều khó khăn.

    -Phụ huynh học sinh còn hạn chế, thiếu tự tin trong nhận thức khi cả tỉnh chỉ có mình trường tôi học thử nghiệm. Họ chưa có thói quen giúp đỡ con học tập Hoạt động ứng dụng và ghi chép nhận xét đánh giá học sinh.

    -Trong tỉnh duy nhất có một trường tôi thực nghiệm nên việc học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm gặp khó khăn.

    Tất cả những khó khăn đó đều đều được rút ra từ bài học kinh nghiệm giúp tôi tự tin và thành công khi thực hiện mô hình đó là:

    -Giáo viên thực sự tâm huyết với nghề, nếu không tâm huyết trách nhiệm cao thì việc để học sinh tự học là bỏ mặc học sinh, các em sẽ mất kiến thức.

    - Phát huy tác dụng của các góc học tập và các công cụ trong lớp đó là: Đồ dùng học tập của học sinh trong mỗi giờ học phải có đủ để học sinh được thực hành, luyện tập. Nếu không có đồ dùng thì kết quả học tập sẽ giảm sút, học sinh không nhớ bài, tạo cơ hội cho các em làm việc riêng trong giờ học, hòm thư điều em muốn nói để nắm bắt được những gì học sinh cần…

    Tạo sự gắn bó thân thiện giữa các thành viên trong lớp học.


    Tác giả: Nguyễn Hợp Châu – GV trường TH Đồng Cương -*

    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Thị Thanh Thuỷ @ 19:13 13/01/2016
    Số lượt xem: 1091
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến