BÁC HỒ KÍNH YÊU

anhbh.LỜI BÁC HỒ DẠY : Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế, không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân. .

NỘI DUNG CỦA TRANG

TÌM THEO THƯ MỤC

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Menu chức năng 1

    MÔ ĐUN TH 26 - KHỦNG LONG

    Nhấn vào đây để tải về
    Hiển thị toàn màn hình
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Tố Hoa
    Ngày gửi: 14h:11' 05-07-2013
    Dung lượng: 146.0 KB
    Số lượt tải: 7118
    Số lượt thích: 0 người

    (MÃ MÔ ĐUN TH 26)

    HÌNH THỨC TỰ LUẬN VÀ TRẮC NGHIỆM TRONG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP Ở TIỂU HỌC

    I. BÀI TỰ LUẬN
    1. Các kết quả học tập mà tự luận có thể kiểm tra được:
    - Trình bày kiến thức sự kiện; nêu khái niệm, định nghĩa; giải thích nguyên tắc; mô tả phương pháp/tiến trình.
    - Kỹ năng vận dụng kiến thức, phân tích, tổng hợp, suy luận và đánh giá những thông tin mới nhờ sự hiểu biết.
    - Kỹ năng suy nghĩ và giải quyết vấn đề.
    - Kỹ năng chọn lựa, tổ chức, phối hợp, liên kết và đánh giá những ý tưởng.
    - Kỹ năng diễn đạt ngôn ngữ.
    Thực tế, ngoài những bài tự luận dùng để đo lường những kết quả học tập phức hợp như giải quyết vấn đề, những kỹ năng trí tuệ cao vẫn có những bài chỉ đòi hỏi HS tái hiện đơn thuần những điều đã học (những bài như thế hiện nay được sử dụng như công cụ chính).
    2. Các hình thức bài tự luận: được phân theo 2 hướng:
    a) Dựa vào độ dài và giới hạn của câu trả lời:
    - Dạng trả lời hạn chế: Về nội dung: phạm vi đề tài cần giải quyết hạn chế. Về hình thức: độ dài hay số lượng dòng, từ của câu trả lời được hạn chế. Dạng này có ích cho việc đo lường kết quả học tập, đòi hỏi sự lí giải và ứng dụng dữ kiện vào một lĩnh vực chuyên biệt.
    - Dạng trả lời mở rộng: cho phép HS chọn lựa những dữ kiện thích hợp để tổ chức câu trả lời phù hợp với phán đoán tốt nhất của họ. Dạng này làm cho HS thể hiện khả năng chọn lựa, tổ chức, phối hợp, tuy nhiên làm nảy sinh khó khăn trong quá trình chấm điểm. Có nhiều ý kiến cho rằng chỉ sử dụng dạng này trong lúc giảng dạy để đánh giá sự phát triển năng lực của HS mà thôi
    b) Dựa vào các mức độ nhận thức: Có 4 loại:
    - Bài tự luận đo lường khả năng ứng dụng;
    - Bài tự luận đo lường khả năng phân tích;
    - Bài tự luận đo lường khả năng tổng hợp;
    - Bài tự luận đo lường khả năng đánh giá.
    Ở tiểu học, bài tự luận chủ yếu đo lường khả năng ứng dụng.
    3. Cách biên soạn đề bài tự luận:
    - Xem xét lại những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng cần đánh giá.
    - Nội dung đòi hỏi HS dùng kiến thức đã học để giải quyết một tình huống cụ thể.
    - Nội dung câu hỏi phải có yếu tố mới đối với HS.
    - Mối quan hệ giữa kiến thức được học với giải pháp cần sử dụng cho vấn đề đặt ra có thể gần nhưng không dễ dàng nhận ra được.
    - Bài tự luận được trình bày đầy đủ với 2 phần chính: Phần phát biểu về tình huống và Phần phát biểu về sự lựa chọn sao cho mỗi HS có thể làm việc trong một ngữ cảnh bình thường và dễ hiểu.
    - Phần hướng dẫn trả lời: trình bày những mức độ cụ thể của câu trả lời: độ dài của bài, những điểm chuyên biệt, những hành vi cần thể hiện như giải thích, miêu tả, chứng minh…
    - Hình thức của bài tự luận có thể là câu hỏi hay lời đề nghị, yêu cầu.
    4. Cách chấm điểm bài tự luận:
    GV xây dựng thang điểm chấm. Tùy theo đặc điểm thang điểm chấm mà việc chấm bài tự luận chia thành 2 hướng:
    a) Hướng dẫn chấm cảm tính: Khi thang điểm chấm được nêu một cách vắn tắt với những yêu cầu tổng quát thì khi chấm thường có xu hướng chấm theo cảm tính.
    b) Hướng dẫn chấm phân tích: Khi thang điểm chấm với những yêu cầu chi tiết cho từng mức điểm đến mức có thể lượng hóa được thì việc chấm thường có xu hướng phân tích.
    II. BÀI TRẮC NGHIỆM
    1. Quy trình soạn thảo bài trắc nghiệm:
    1) Nắm đề cương môn học/ phần học/chương học.
    2) Xác định phạm vi nội dung và mục đích của bài kiểm tra.
    3) Xây dựng kế hoạch trắc nghiệm: Nội dung, mục tiêu, kỹ thuật đánh giá và số lượng câu cho mỗi mục tiêu.
    4) Chọn lựa hình thức kiểm tra và viết câu trắc nghiệm.
    5) Tự kiểm tra lại các câu trắc nghiệm: đối chiều nội dung với mục tiêu tương ứng, ngôn ngữ diễn đạt…
    6) Tổ chức kiểm tra và thu thập thông tin.
    7) Đánh giá chất lượng bài kiểm tra.
    8) Cải tiến quá trình dạy và học.
    Ví dụ: KẾ HOẠCH TRẮC NGHIỆM
    Nội dung
    Mục tiêu
    Dạng trắc nghiệm
    Số câu
    
    1. Nội dung 1
     
    Gửi ý kiến