BÁC HỒ KÍNH YÊU

anhbh.LỜI BÁC HỒ DẠY : Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế, không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân. .

NỘI DUNG CỦA TRANG

TÌM THEO THƯ MỤC

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Menu chức năng 1

    Gốc > TRUYỆN -THƠ >

    Luật Thơ : Lục Bát & Song Thất Lục Bát

     

     
                                                      
     A - Thơ Lục Bát
         Thơ Lục Bát là một thể thơ thuần túy của Việt Nam, rất êm dịu, nhẹ nhàng, giống như bản chất hiền hòa của dân tộc ta. Xuất xứ từ Ca Dao.
     Phạm Quỳnh cho  rằng: "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn .”
         Câu này mang hàm ý: "Thơ Lục Bát còn dân tộc Việt còn, thơ Lục Bát mất dân tộc Việt mất". Bởi vì, Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du được viết bằng Chữ Nôm theo thể thơ Lục Bát (nguyên tác là Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân).
         Chính vì thế, là con cháu, chúng ta cần nên gìn giữ tinh hoa văn hóa của ông cha lưu truyền, nhất là hạn chế việc làm biến  dạng hình thức của thể Thơ Lục Bát. Đó  một thể thơ đại diện cho tinh hoa dân Việt chúng ta.

    1 - Luật Bằng Trắc 
         - câu 6 chữ : b B t T b B
         - câu 8 chữ : b B t T b B t B
    Những chữ có dấu huyền hay không dấu là vần Bằng.
    Thí dụ: đi, về
    Những chữ có dấu sắc, dấu hỏi, dấu ngã, dấu nặng là vần Trắc
    Thí dụ: bát, trả, chữ, nợ .
    Những chữ in lớn (B, T) là bắt buộc phải theo luật được qui định

    2 - Cách giao vần 
          a - Cách gieo vần 1
    Trong thơ Luc Bát thông thường chỉ sử dụng vần Bằng.
          - Bắt đầu từ chữ cuối của câu 6 chữ, gieo vần với chữ thứ 6 của câu 8 chữ. Cách gieo vần này  gọi là Vần Lưng (yêu vận), nghĩa là gieo vần ở giữa câu.
          - Tiếp đến, chữ cuối của câu 8 chữ, gieo vần với chữ cuối câu 6 chữ tiếp theo. Gọi là Vần Chân(Cước vận).
    Cứ thế tiếp tục mãi và số câu trong bài thơ không giới hạn.
    Thí dụ: Bài thơ sau đây

                          Mộng Đêm Thu 

                   Men hương ấp ủ thu về
                    b        B      t   T   b    B
         Muôn cành lá rụng đê mê nổi buồn
            b      B      t    T      b   B    t      B
           Không gian một chút loạn cuồng
    Gặp nàng thơ diện cành buông trăng thề
    ...
                                  
                          Lục Lạc
                         Tình Hoa

                     
    Hoa hồng gợi chút ý thơ
    Đọng sương lóng lánh như mơ chuyện tình
                  Gọi nhau hẹn ước cưới xin
    Hồng thơm hương tỏa lung linh nguyệt cầm...
                                                                Lãng Tử
                 b - Cách gieo vần 2

             Ngoài ra, chúng ta có thể gieo vần như thế này : từ chữ cuối câu 6 chữ, ta gieo vần với chữ thứ 4 của câu 8 chữ
    Thí dụ :

              
    Anh đi ghe rổi chín chèo
    Bởi anh thua bạc nên nghèo nợ treo
              Nợ treo kệ mặc nợ treo
      Em bán bánh bèo trả nợ nuôi anh
                                        (Ca Dao)
    Hoặc:

              
    Ăn no rồi lại nằm quèo
    Thấy giục trống chèo vội vã đi xem
                                  
           (Ca Dao)  


    3 - Trường hợp ngoại lệ

         Tuy nhiên, trong thơ Lục Bát vẫn có những trường hợp phá cách, không theo qui luật trên.
    a - Thí dụ :

                              Trách
          Nghìn dậm  nhớ dáng trong mơ (chữ thứ hai vần trắc)
    Bên ngoài Mai rụng ta chờ người sang
            Giờ thấm thoát xuân đã tàn
    Bóng người biền biệt hạ vàng đến nơi
            Đâu tăm cá đâu chim trời
      Nên ta còn đứng đợi người về đây

                                  
                      (Quên Đi)

    b - Hoặc là sử dụng vần TRẮC

            Tò vò mà nuôi con nhện
      Đến khi nó lớn nó quện nhau đi
               Tò vò ngồi khóc tỉ ti
    Nhện ơi nhện hỡi mầy đi đằng nào

                                                 (Ca Dao) 
    hay là:
                 Đêm năm canh ngày sáu khắc
    Thương nhớ chàng không một giấc nào nguôi

                                                               (Ca Dao) 
            Qua cầu một trăm cái nhịp

    Em không theo kịp kêu bớ hỡi chàng 
                                                (Ca Dao)

         Tình thương gươm trường không sợ
    Sét đánh bên mình duyên nợ không buông 
                                                     (Ca Dao) 

    B - Thơ Song Thất Lục Bát
    Thơ Song Thất Lục Bát cũng là thể thơ của Việt Nam, gồm hai câu Bẩy chữ, kế đến một câu Sáu và một câu Tám chữ. Cứ như thế tiếp tục, không giới hạn số câu. 

    Luật Bằng Trắc và cách gieo vần :

    " b , t " : không bắt buộc
    " T " : Vần Trắc bắt buộc
    " B " : Vần Bằng bắt buộc

    Trong thơ Song thất Lục Bát, chữ cuối của câu Thất trên gieo vần với chữ thứ 5 của câu Thất thứ hai.
    Chữ thứ 7 câu thất thứ hai gieo vần với chữ cuối của câu Lục. Chữ cuối của câu Lục gieo vần với chữ thứ Sáu của Câu Bát.  Chữ cuối của Câu Bát sẽ gieo vần với chữ thứ Năm của câu Thất đoạn hai.
    Cứ tiếp tuc như thế và không giới hạn số câu trong một bài thơ.

    Câu Thất 1 : b bT t B b T
    Câu Thất 2 : t  t B b T t B
    Câu Lục :    b B t T b B
    Câu Bát : b B t T b B t B
    Đoạn hai :   b b T t B b T (giống 4 câu trên )
                        t t B b T 
    t B
                        b B t T b B
                      b B t T b B 
    t B

    Thí dụ :

               Vầng Trăng Khuyết

      Khép nép giữa dòng vầng trăng khuyết
          Ai tình nhân biền biệt phương nao
                Để người thơ thẩn ra vào
    Trăng không tròn vẹn bến nào trăng neo
       Trên sông vắng trăng 
    theo sóng nước
        Thuyền có về chở được hay không
             Chớ gieo hy vọng chờ
     mong
      Để trăng lại nhớ đau lòng cho trăng
                                  
                         (Quên Đi)

    Tuy nhiên, trong thơ Song Thất Lục Bát luật Bằng Trắc cũng có ngoại lệ :

                          Khúc Hát Sai Mùa

               Thả tâm hồn vô thinh lá đổ    ( Chữ thứ ba vần Bằng)
             Ngơ ngác đời bể khổ mù bơi...
        Chuông ngân thánh thoát nhẹ rơi...
    Cửa thiền mở rộng luân hồi... nhân sinh

                                  
                            ( Kim Oanh)

    Huỳnh Hữu Đức

    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Thị Thanh Thuỷ @ 19:27 18/04/2017
    Số lượt xem: 1183
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến