BÁC HỒ KÍNH YÊU

anhbh.LỜI BÁC HỒ DẠY : Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế, không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân. .

NỘI DUNG CỦA TRANG

TÌM THEO THƯ MỤC

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Menu chức năng 1

    Gốc > TRUYỆN -THƠ >

    THƠ ĐƯỜNG LUẬT

    Các thể loại thơ thông thường: Thể Lục Bát, Biến Thể Lục Bát, Thể Song Thất Lục Bát, Thể Thất Ngôn/Bảy Chữ (Thơ Cũ), Thể Thất Ngôn/Bảy Chữ (Thơ Mới), và Thể Thơ Tám Chữ. 


    Thể Lục Bát 

    Thơ Lục Bát, còn được gọi là thơ "Sáu Tám", vì câu đi trước có 6 chữ, còn câu đi sau có 8 chữ. Cứ thế mà lập lại hoài cho tới khi nào tác giả muốn ngưng bài thơ. Thông thường, bài thơ Lục Bát dừng lại ở câu 8. 

    1. Cách Gieo Vần-Chữ cuối của câu trên (tức câu 6) phải vần với chữ thứ sáu của câu dưới (tức câu 8). Cứ mỗi hai câu thì đổi vần, và bao giờ cũng gieo vần bằng (còn gọi là bằng hoặc bình, tức có dấu huyền hoặc không dấu). Ký hiệu của bằng là B. Ðặc biệt chữ thứ tư của câu 6 và câu 8 và chữ thứ bảy của câu 8 luôn luôn được gieo ở vần trắc hay trắc (tức có dấu sắc, dấu hỏi, dấu ngã, hoặc dấu nặng). Ký hiệu của trắc là T. Chữ thứ sáu của câu 8 được gọi là yêu vận (vần lưng chừng câu), và chữ thứ 8 của câu tám được gọi là cước vận (vần cuối câu). Vận hay vần là tiếng đồng thanh với nhau. Gieo vần thì phải hiệp vận (tức cho đúng vận của nó). Ví dụ: hòn, non, mòn, con... Nếu gieo vần mưa với mây thì bị lạc vận. Còn nếu gieo vần không hiệp với nhau thì gọi là cưỡng vận. Ví dụ: tin đi với tiên. 

    2. Luật Bằng Trắc-Cách dùng mẫu tự và viết tắt như sau: B là Bằng, T là Trắc, V là Vần. 

    Câu 6: B B T T B B 
    Câu 8: B B T T B B T B 

    Ví dụ: 
    Câu 6: Trăm năm | trong cõi | người ta 
    Câu 8: Chữ tài | chữ mệnh | khéo là | ghét nhau 
    Câu 6: Trải qua | một cuộc | bể dâu 
    Câu 8: Những điều | trông thấy | mà đau | đớn lòng 
    (Kiều) 

    Ghi chú: Chữ là và đau là yêu vận (tức là vần đặt ở trong câu); chữ nhau và lòng là cước vận (tức là vần đặt ở cuối câu). Chữ thứ 6 của câu 6 (ta) hiệp vận (V) với chữ thứ 6 của câu 8 (là), chữ thứ 8 (nhau) của câu 8 hiệp vận (V) với chữ thứ 6 (dâu) của câu 6, chữ thứ 6 (dâu) của câu 6 hiệp vận (V) với chữ thứ 6 (đau) của câu 8. 

    Biệt lệ-Tuy luật bằng trắc đã qui định như ở trên, nhưng những chữ thứ 1, thứ 3 và thứ 5 nếu không theođúng luật thì cũng không sao. Cái biệt lệ ấy được gọi là "nhất, tam, ngũ bất luận", có nghĩa là chữ thứ 1, chữ thứ 3 và chữ thứ 5 không kể (bất luận), tức không nhất thiết phải theo đúng luật. Còn các chữ thứ 2, chữ thứ 4, và chữ thứ 6 bắt buộc phải theo đúng luật (phân minh), do câu "nhì, tứ, lục phân minh". 
    Ví dụ: 
    Trăm năm trong cõi người ta (Kiều) 
    (Ghi chú: chữ thứ 3 (trong) đáng lẽ thuộc vần Trắc, nhưng lại đổi thành vần Bằng). 
    Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau (Kiều) 
    (Ghi chú: chữ thứ 1 (Chữ) và thứ 5 (khéo) đáng lẽ thuộc vần Bằng, nhưng lại đổi thành vần Trắc). 

    3. Thanh-Thanh gồm có Trầm Bình Thanh và Phù Bình Thanh. Trầm Bình Thanh là những tiếng hay chữ có dấu huyền. Ví dụ: là, lòng, phòng... Phù Bình Thanh là những tiếng hay chữ không có dấu. Ví dụ: nhau, đau, mau... Trong câu 8, hai chữ thứ 6 và thứ 8 luôn luôn ở vần Bằng, nhưng không được có cùng một thanh. Có như thế, âm điệu mới êm ái và dễ nghe. Nếu chữ thứ 6 thuộc Phù Bình Thanh thì chữ thứ 8 phải thuộc Trầm Bình Thanh, và ngược lại. 
    Ví dụ: 
    Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau. 
    (Ghi chú: là thuộc Trầm Bình Thanh, nhau thuộc Phù Bình Thanh). 
    Những điều trông thấy mà đau đớn lòng. 
    (Ghi chú: đau thuộc Phù Bình Thanh, lòng thuộc Trầm Bình Thanh). 

    4. Phá Luật-Thỉnh thoảng chúng ta bắt gặp người làm thơ thích phá luật ở chữ thứ hai câu 6, thay vì vần bằng thì lại đổi ra vần trắc; còn chữ thứ tư thì có khi đổi thành vần bằng thay vì vần trắc như thường lệ.Câu 6 cũng được ngắt ra làm hai vế. 
    Ví dụ: Mai cốt cách | tuyết tinh thần (B T T T B 
    Mỗi người | một vẻ | mười phân | vẹn mười (T B T T B B T 
    (Kiều) 
    Ðau đớn thay | phận đàn bà (B T B T B 
    (Kiều) 
    Khi tựa gối | khi cúi đầu (B T T B T 
    (Kiều) 
    Ðồ tế nhuyễn | của riêng tây (B T T T B 
    Sạch sành sanh vét | cho đầy túi tham (T B B T B B T 
    (Kiều) 

    Biến Thể Lục Bát 
    Biến Thể Lục Bát là thể văn biến đổi ở cách gieo vần. 

    Ví dụ: 
    Câu 6: Vừa ra đến chợ một khi 
    Câu 8: Thấy rồng che phủ tứ vi một người 
    Câu 6: Nguyên nàng số lý nghề nòi 
    Câu 8: Dưới đất trên trời thuộc hết mọi phương (T T B B T T B 
    (Truyện Lý Công ) 
    Chú thích: Câu tám thứ hai vừa phá luật vừa biến thể. Chữ thứ tư (trời) của câu 8 lại vần với chữ thứ sáu (nòi) của câu 6. 
    Hoặc: 
    Câu 6: Khoan khoan chân bước bên đường 
    Câu 8: Thấy chàng họ Lý ngồi đương ăn mày 
    Câu 6: Ðầu thời đội nón cỏ may 
    Câu 8: Mặt võ mình gầy cầm sách giờ lâu (T T B B B T B 
    (Truyện Lý Công) 
    Chú thích: Câu tám thứ hai vừa phá luật vừa biến thể. Chữ thứ tư (gầy) của câu 8 lại vần với chữ thứ sáu (may) của câu 6. 

    Trên đây là một số niêm luật căn bản của thơ Lục Bát. Làm thơ Lục Bát tuy dễ mà khó. Cái khó là ở cách gieo vần, làm sao đừng cho bị lạc vận hoặc cưỡng vận. Một bài thơ hay mà bị lạc vận hoặc cưỡng vận thì sẽ làm hỏng cả bài thơ, cũng giống như một con sâu làm hỏng cả nồi canh ngon vậy! 

    Người viết sẽ nêu một vài ví dụ điển hình để bạn thấy những khuyết điểm nho nhỏ mà người làm thơ không để ý tới, có thể vì chưa nắm vững niêm luật hoặc cũng có thể vì coi thường niêm luật. Sự không hiệp vận ấy gọi là cưỡng vận hay ép vận (tin đi với tiên) và lạc vận (mưa đi với mây). 
    (Ghi Chú: Về Vần hay Vận, xin xem một bài viết riêng về Thanh, Bằng Trắc và Vần của cùng tác giả sẽ cống hiến các bạn trong một dịp khác.) 

    Ví dụ: 
    Nhớ xuân lửa đạn rừng đồi 
    Nhớ đêm không ngủ cuối trời Việt Nam 
    Bây giờ mượn chút thời gian 
    Chia cho hiện tại để làm quà Xuân 
    Chú thích: 
    đồi đi với trời là Cưỡng vận (đồi với trời thuộc Vần Thông,1 chỉ hợp về Thanh chứ không hợp về Âm). 
    Nam đi với gian là Lạc vận (Nam và gian không thuộc Vần Chính 2 và Vần Thông). 
    gian đi với làm là Lạc vận (gian và làm không thuộc Vần Chính và Vần Thông). 

    Nhớ mi quầng biệt Quỳnh Côi 
    Nhớ hương bồ kết nhớ người mẹ quê 
    Chú thích: 
    Côi đi với người là Lạc vận (Côi và người không thuộc Vần Chính và Vần Thông). 

    Nhớ em phụng phịu: trời mưa 
    Giao thừa chẳng được vui đùa với nhau 
    Chú thích: 
    Mưa đi với đùa là Cưỡng vận (mưa và đùa thuộc Vần Thông, chỉ hợp về Thanh chứ không hợp về Âm). 

    Có người hôm ấy chải đầu 
    Vô tình tóc cứ bay vào vai ta 
    Chú thích: 
    đầu đi với vào là Lạc vận (đầu và vào không thuộc Vần Chính và Vần Thông). 

    Ly cà phê Mỹ nhạt hơn 
    Nhưng đầy chất đắng trong hồn tha hương 
    Chú thích: 
    hơn đi với hồn là Cưỡng vận (hơn và hồn thuộc Vần Thông, chỉ hợp về Thanh chứ không hợp về Âm). 

    Vẫn không gian ấy bão bùng 
    Hay mồ hôi tưới trên thung lũng cằn 
    Bây giờ ngồi giữa thế gian 
    So giây ướm thử mấy gam giao mùa 

    Chú thích: 
    cằn đi với gian là Lạc vận (cằn và gian không thuộc Vần Chính và Vần Thông). 
    gian đi với gam là Lạc vận (gian và gam không thuộc Vần Chính và Vần Thông). 

    Gió thơm từ thuở hoàng hôn 
    Theo chân ánh sáng về ôm ngang trời 
    Chú thích: 
    hôn đi với ôm là Lạc vận (hôn và ôm không thuộc Vần Chính và Vần Thông). 

    Rừng Xuân hoa lá êm đềm 
    Có người thơ thẩn đi tìm phong lan 
    Chú thích: 
    đềm đi với tìm là Lạc vận (đềm và tìm không thuộc Vần Chính và Vần Thông). 

    1 Vần Thông là những vần chỉ hợp nhau về thanh, còn âm thì tương tự chớ không hợp hẳn. 
    2 Vần Chính là những vần mà cả thanh lẫn âm đều hợp nhau.

     

     

     

    BÀI NÀY CỦA BĂNG THANH 


    CÁCH LÀM THƠ THẤT NGÔN BÁT CÚ 
    (Thơ Đường Luật) 


    Thơ thất ngôn bát cú Đường luật gồm có 8 câu, mỗi câu 7 chữ. Tổng cộng có 56 chữ. 

    Về cách phối âm, hay luật bằng trắc giữa các câu, ta chỉ nói các thanh Bằng-Trắc của các chữ đứng thứ 2-4-6 trong 1 câu (theo quy tắc Nhất-tam-ngũ bất luận, nhị-tứ-lục phân minh). Các tiếng 2-4-6 trong cùng 1 câu theo thứ tự luật bằng trắc có thể là B - T - B hay có thể là T - B - T.
    Ví dụ: 
    Quanh năm buôn bán ở mom sông B - T - B 
    Nuôi đủ năm con với một chồng T - B - T 

    Đôi khi trong câu đầu tiên của bài thơ cũng có thể làm theo thứ tự B - B - T, cũng có thể xem đó là luật phối thanh của câu T - B - T. Ví dụ: 
    Một đèo, một đèo, lại một đèo B - B - T 

    Về cách gieo vần trong thơ: Vần trong thơ là những tiếng đọc giống nhau hay những tiếng đọc gần giống nhau như cùng một vần, hay là vần gần giống nhau mhư sông-chồng, tà-hoa.... Các vần giống nhau trong thơ Đường luật mang thanh bằng, và được đặt ở cuối mỗi câu thơ. Có thể gieo vần vào các tiếng cuối của các câu 1-2-4-6-8, hay có thể là 2-4-6-8, và các vần phải vần với nhau rõ ràng,các tiếng cuối câu 3-5-7 còn lại phải mang thanh trắc, các cao nhân thời xưa thường hay gieo vần vào các tiếng cuối các câu 1-2-4-6-8. Ví dụ: 
    Sóc phong suy hải khí lăng lăng 
    Khinh khởi ngâm phàm quá Bạch Đằng 
    Ngạc đoạn, kình khoa sơn khúc khúc 
    Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng 
    Quan hà Bách nhị do thiên thiết 
    Hào kiệt công danh thử địa tằng 
    Vãn sự hồi đầu ta dĩ hĩ 
    Lâm lưu phủ cảnh ý nan thăng 
    (Bạch Đằng hải khẩu - Nguyễn Trãi) 


    Trong khi gieo vần thường các cao nhan cũng chú ý đối thanh trong thơ, thường có 2 cách đối thanh, đó là đối thanh huyền (H) và thanh ngang (N) trong các vần được gieo. Ở bài thơ ví dụ trên ta thấy lăng-Đằng-tằng-tằng-thăng theo thứ tự N-H-H-H-N. Còn cách đối kách là xen kẽ thanh huyền và thanh ngang với nhau. Ví dụ như bài Qua đèo ngang của bà huyện Thanh Quan. 

    Phép đối trong thơ thất ngôn bát cú, là đối giữa các câu 3-4, 5-6. Các câu này đối lại nhau như các câu đối thời xưa. Rõ nhất là về các câu trong bài Qua đèo Ngang. Về bố cục thì bài thơ được chia làm 4 mỗi phần có 2 câu: 
    Câu 1-2 là hai câu đề: Mở ra vấn đề về bài thơ 
    Câu 3-4 là hai câu thực: Giải thích về vẫn đề 
    Câu 5-6 là hai câu luận: Bàn luận về vấn đề 
    Câu 7-8 là hai câu kết: Kết luận lại vấn đề 

     

     

     

    CÁCH LÀM THƠ THẤT NGÔN TỨ TUYỆT



    Thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật gồm có 4 câu, mỗi câu 7 chữ, về phối thanh hay luật bằng trắc hoàn toàn giống thơ thất ngôn bát cú. Về gieo vần thì có 3 cách: 
    Gieo vần vào tiếng cuối các câu 1-2-4 (tiếng cuối câu 3 bắt buộc thanh trắc) 
    Ví dụ: 

    Thân em vừa trắng lại vừa tròn 
    Bảy nổi ba chìm với nước non 
    Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn 
    Mà em vẫn giữ tấm lòng son 


    Cách này thường được các cao nhân thời xưa xử dụng nhiều nhất. 

    Gieo vần chéo: vào tiếng cuối các câu 1-3 (tiếng cuối các câu 2-4 phải là thanh trắc) hay các câu 2-4 (tiếng cuối các câu 1-3 phải là thanh trắc). Ví dụ: 

    Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh 
    Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần 
    Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm 
    Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân 


    Cách này thường được Hồ Chí Minh sử dụng. 

    Gieo vần ôm: Tiếng cuối câu 1 vần với tiếng cuối câu 4, tiếng cuối câu 2 vần với tiếng cuối câu 3. Ví dụ: 

    Tiếng đàn thầm dịu dẫn tôi đi 
    Qua những sân cung rộng hải hồ 
    Có phải A Phòng hay Cô Tô ? 
    Lá liễu dài như một nét m

    Cách này ít người sử dụng.
     

    Nói chung thơ này giống với thơ thất ngôn bát cú. 


    CÁCH LÀM THƠ NGŨ NGÔN


    Thơ ngũ ngôn Đường luật cũng giống thơ thất ngôn Đường luật, hoàn toàn giống về niêm, về cách gieo vần, nhưng về bắng trắc thì chỉ có 2 tiếng 2-4 nên theo thứ tự B-T hay là T-B, cứ như thế. 
    Ví dụ: 

    Đoạt sóc Chương Dương độ 
    Cầm hồ Hàm Tử quan 
    Thái bình nghi nổ lực 
    Vạn cổ thử giang san


    CÁCH NGẮT NHỊP THƠ 


    Đọc thơ phải đúng cách, đó là đọc đúng cách ngắt nhịp trong thơ để có thể cảm nhận hết được những ý tứ của tá gỉ trong thơ. 
    Cách ngắt nhịp thường gặp trong thơ thất ngôn Đường luật là nhịp chắn: nhịp 2/2/3 hay còn gọi là nhịp 4-3.Ví dụ: 

    Một đèo / một đèo / lại một đèo 

    Nhưng đôi khi cũng có thể làm nhịp 3-4 theo dụng ý tác giả. 
    Cách ngắt nhịp thơ ngũ ngôn theo nhịp 2/3. 
    Cách ngắt nhịp giúp ta hiểu rõ thơ hơn, cảm nhận hết ý tứ thơ. 


    Trên đây chỉ là những hiểu biết sơ sài của tôi về thơ Đường luật, post lên đây với mong muốn mọi nguời hãy sửa chữa những chỗ sai sót và bổ sung chỗ thiếu sót giúp cho chúng ta có thể hiểu thêm về một thể thơ nổi tiếng từ thời xa xưa đến nay. Mong các bạn giúp đỡ. Cảm ơn. 


    Phép đối và câu đối 

     

    SONG THẤT LỤC BÁT 


    Song Thất Lục Bát . Có 4 câu : hai câu đầu 7 chữ, câu thứ ba 6 chữ, câu cuối 8 chữ 

    Luật Bằng trắc : 

     



    Luật : 

    x = Không qui luật ( Bằng hoặc Trắc cũng được ) 

    B = Bằng ( là những chữ không dấu hoặc có dấu huyền ) 

    T = Trắc ( là những chữ có dấu Sắc, Hỏi , Ngã , Nặng )T1= Vần Trắc ......T1 ( chữ thứ 7 ) của câu 1 phải vần với T1 ( chữ thứ 5 ) của câu 2 B2= Vần Bằng .....Chữ thứ 7 của câu 2 ..vần với chữ thứ 6 cuả câu 3 ......Chữ thứ 6 của câu 4 vần với chữ thứ 6 của câu 3 




    Vần 

    Chữ thứ 5 của câu 2 ( tháng ) vần với chữ thứ 7 của câu 1( ngán ) 

    Chữ cuối cùng của câu 3 ( ca ) vần với chữ cuối của câu 2 ( qua ) 

    Chữ thứ 6 của câu 4 ( xa ) vần với chữ cuối của câu 3 ( ca ) 

    Note : Câu 3 và câu 4 làm theo thể thơ Lục Bát 



    Âm Khúc : 

    Chia từng câu thành những khúc nhỏ ..... trong Song Thất Lục Bát chia câu số 1 thành hai khúc và dùng lời thơ để nhấn mạnh từng khúc : 

    Câu 1 : 

    Đông đã đến / bao mùa ngao ngán 

    Câu 2 : 

    Nhớ thương người, / bao tháng năm qua 

    Câu 3 : 

    Phổ cầm / khúc tuyệt / tình ca 

    Câu 4 : 

    Nhỏ giòng / máu thắm / xót xa / đoạn trường 



    SONG THẤT LỤC BÁT 


    Cũng như LỤC BÁT, SONG THẤT LỤC BÁT thường được dùng trong những truyện thơ, và là thể loại thứ hai của hai thể thơ "chính tông" trong Việt văn. 

    Song Thất Lục Bát là loại thơ mở đầu bằng hai câu THẤT, rồi tiếp đến hai câu LỤC BÁT, tạo thành một KHỔ với ý từ trọn vẹn. (có nghĩa là trong 4 câu phải trọn vẹn một ý) 

    Câu THẤT trên (câu số 1), tiếng thứ 3 là chữ TRẮC, tiếng thứ 5 là chữ BẰNG, và tiếng thứ 7 là chữ TRẮc và VẦN. 

    Câu Thất dưới (câu số 2), tiếng thứ 3 là chữ BẰNG, tiếng thứ 5 là chữ TRẮC và VẦN với tiếng thứ 7 của câu trên, tiếng thứ 7 là chữ BẰNG và VẦN. 

    ***Song Thất Lục Bát không giống như Thất Ngôn Luật theo lối 

    Hán văn, vì luật BẰNG TRẮC được áp dụng trong Song Thất ở 

    chữ thứ 3, thứ 5, mà trong Thất Ngôn Luật thì chữ thứ 3 và 

    chữ thứ 5 lại có thể theo lệ BẤT LUẬN. 

    Sau hai câu Thất là hai câu Lục Bát, theo luật của Lục Bát...chữ cuối của câu LỤC vần với chữ thứ 7 của câu THẤT thứ nhì): 

    ĐIỀU NGOẠI LỆ: Thông thường chữ thứ 3 của câu Thất(1) là chữ TRẮC, nhưng trong trường hợp không có đối ở câu dưới, thì chữ thứ 3 của câu Thất trên có thể là chữ BẰNG. : 

    Nguồn : http://www.camranhtinhnho.com/HLTSongThatLucBat.htm 


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Thị Thanh Thuỷ @ 21:41 03/06/2017
    Số lượt xem: 783
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến